Bài viết này là thông tin hướng dẫn chung, không phải tư vấn pháp lý. Với từng trường hợp cụ thể (số tiền bị nợ, nội dung hợp đồng lao động, tư cách lưu trú...), bạn nhất định phải kiểm tra tại các cơ quan chính thức của chính phủ nêu dưới đây theo đúng tình huống của mình.
Lương tối thiểu tại Hàn Quốc áp dụng cho năm 2026 là 10,320 KRW/giờ. Nếu làm 8 tiếng/ngày, 5 ngày/tuần thì mức tối thiểu là 2,156,880 KRW/tháng. Sang năm 2027, mức này tăng lên 10,700 KRW/giờ và 2,236,300 KRW/tháng.
Khi đi tư vấn hay gửi đơn khiếu nại về vấn đề tiền lương, câu hỏi đầu tiên hầu như đều giống nhau: "Bạn bị thiếu bao nhiêu?" Cơ quan tiếp nhận cần một con số, chứ không phải câu "tôi chưa được trả". Mà để tính ra con số đó, bạn chỉ cần ba dữ liệu: ① tổng tiền lương trước khi trừ ② số giờ đã làm trong tháng đó ③ mức lương tối thiểu của năm đó.
Mức chuẩn này không thay đổi theo quốc tịch hay tư cách lưu trú. Điều 3 khoản 1 Luật Lương tối thiểu chỉ quy định đối tượng áp dụng là "mọi doanh nghiệp hoặc nơi làm việc có sử dụng người lao động", không đặt điều kiện về quốc tịch hay loại visa. Điều 6 Luật Tiêu chuẩn Lao động cấm phân biệt điều kiện lao động vì lý do quốc tịch, và Điều 22 Luật về Tuyển dụng người lao động nước ngoài cũng cấm việc phân biệt đối xử bất công chỉ vì là người lao động nước ngoài (theo mốc 2026).
Vấn đề nằm ở bước sau. Mức lương tối thiểu thì giống nhau với mọi người, nhưng việc tính những khoản nào vào mức đó và có được nhận phụ cấp cộng thêm hay không lại khác nhau tùy ngành nghề, quy mô nơi làm việc và có đang trong thời gian thử việc hay không. Nếu tính sai ở đây, bạn có thể từ bỏ số tiền đáng được nhận, hoặc ngược lại, nhầm một tình huống hợp pháp thành nợ lương.
Lưu ý: Số tiền và điều luật trong bài theo mốc 2026-08. Lương tối thiểu của năm sau được công bố mới vào đầu tháng 8 mỗi năm, nên trước khi tính, hãy xác nhận giai đoạn của bạn thuộc năm áp dụng nào.
Lương tối thiểu năm 2026·2027 — Không thay đổi theo ngành nghề
| Năm áp dụng | Lương theo giờ | Quy đổi tháng (40 giờ/tuần · 209 giờ/tháng) | Thông báo công bố | Hiệu lực |
|---|---|---|---|---|
| Năm 2026 | 10,320 KRW | 2,156,880 KRW | Thông báo Bộ Lao động và Việc làm số 2025-47 (công bố 5/8/2025) | 1/1/2026 |
| Năm 2027 | 10,700 KRW | 2,236,300 KRW | Thông báo Bộ Lao động và Việc làm số 2026-60 (công bố 5/8/2026) | 1/1/2027 |
Mức tăng của năm 2026 là 290 KRW (2.9%) so với 10,030 KRW của năm 2025, còn năm 2027 tăng 380 KRW (3.7%) so với năm 2026. Ngày có hiệu lực lần lượt là ngày 1 tháng 1 của năm tiếp theo (Điều 10 khoản 2 Luật Lương tối thiểu).
Trước tiên xin khẳng định điểm bị hiểu sai nhiều nhất. Ở Hàn Quốc hiện nay (2026·2027) không có mức lương tối thiểu khác nhau theo ngành nghề. Cả hai thông báo đều ghi rõ là "áp dụng như nhau cho toàn bộ nơi làm việc, không phân biệt theo loại hình doanh nghiệp". Dù là nông trại, nhà máy, nhà hàng hay công trường xây dựng, mức tiền tối thiểu phải nhận mỗi giờ đều giống nhau. Cái gọi là "ngoại lệ theo ngành nghề" sẽ nói ở phần sau không phải là ngoại lệ về mức lương tối thiểu, mà là ngoại lệ về quy định thời giờ làm việc.
Nếu số tiền đã thỏa thuận thấp hơn mức chuẩn này thì thỏa thuận đó mất hiệu lực. Điều 6 khoản 3 Luật Lương tối thiểu quy định phần hợp đồng lao động ấn định tiền lương thấp hơn lương tối thiểu là vô hiệu, và phần vô hiệu đó được xem như đã thỏa thuận trả mức lương bằng lương tối thiểu. Nghĩa là dù bạn đã ký hợp đồng, phần thiếu vẫn là khoản tiền bạn đã có quyền được nhận. Không trả thì thành nợ lương.
Hình phạt cũng không nhẹ. Người sử dụng lao động trả lương thấp hơn lương tối thiểu hoặc hạ mức lương cũ lấy lý do lương tối thiểu sẽ bị phạt tù đến 3 năm hoặc tiền phạt hình sự đến 20 triệu KRW, và có thể bị áp dụng đồng thời cả tù và tiền phạt hình sự (vi phạm Điều 6 khoản 1·khoản 2 Luật Lương tối thiểu, hình phạt theo Điều 28 khoản 1 cùng luật, theo mốc 2026).
Ngược lại, cũng có trường hợp Luật Lương tối thiểu hoàn toàn không được áp dụng. Người giúp việc gia đình (家事) và doanh nghiệp chỉ sử dụng thân nhân sống cùng nhà thì không áp dụng cả Luật Lương tối thiểu và Luật Tiêu chuẩn Lao động (đoạn ngoại trừ Điều 3 khoản 1 Luật Lương tối thiểu, đoạn ngoại trừ Điều 11 khoản 1 Luật Tiêu chuẩn Lao động); thuyền viên thuộc diện áp dụng Luật Thuyền viên và chủ tàu đó cũng không thuộc đối tượng của Luật Lương tối thiểu (Điều 3 khoản 2 Luật Lương tối thiểu).
Chú ý: Danh sách ngoại lệ trên không phải ví dụ mà là tiêu chuẩn xác định. Không có trong danh sách cũng không tự động được áp dụng hết, mà trông giống giống cũng không có nghĩa là được loại trừ. Việc nơi làm việc của bạn thuộc diện nào do Sở Lao động và Việc làm phụ trách xác định, nên nếu chưa rõ, hãy gọi ☎1350 (Trung tâm tư vấn khách hàng Bộ Lao động và Việc làm) hỏi trước.
Cách đổi lương tháng thành lương giờ — Con số 209 giờ đến từ đâu
Nếu bạn nhận lương tháng thì phải đổi sang lương giờ mới so sánh được. Con số 209 giờ dùng ở đây không phải thói lệ, mà là kết quả của công thức quy định tại Điều 5 khoản 1 mục 3 Nghị định thi hành Luật Lương tối thiểu. Từng bước như sau:
- Bước 1: Ghi ra số giờ làm việc theo quy định trong 1 tuần là 40 giờ. Đây là số giờ đã thỏa thuận làm việc, ghi trong hợp đồng.
- Bước 2: Cộng thêm 8 giờ nghỉ có lương hằng tuần (Điều 55 khoản 1 Luật Tiêu chuẩn Lao động). 40 + 8 = 48 giờ.
- Bước 3: Nhân lên thành một năm rồi chia cho một tháng. 48 × 365 ÷ 7 ÷ 12 = 208.57 giờ.
- Bước 4: Làm tròn lên thành 209 giờ.
Kiểm tra lại cũng khớp. 10,320 KRW × 209 = 2,156,880 KRW, 10,700 KRW × 209 = 2,236,300 KRW. Trùng đến từng đơn vị KRW với mức quy đổi tháng trong thông báo của Bộ Lao động và Việc làm. Vậy nên với người làm 40 giờ/tuần thì lương tháng của tôi ÷ 209 chính là lương giờ, và nếu con số này thấp hơn lương tối thiểu của năm đó thì bạn đang bị thiếu.
Chú ý: Người không làm 40 giờ/tuần mà dùng số 209 thì cả phép tính sẽ sai bét. 209 giờ là con số được tạo ra trên tiền đề 40 giờ/tuần. Nếu số giờ làm việc theo quy định khác đi như 30 giờ/tuần hay 20 giờ/tuần, bạn phải tính lại theo số giờ quy định trong hợp đồng của mình và số giờ nghỉ có lương tương ứng; nếu thấy khó hình dung thì gọi ☎1350 để xác nhận sẽ chính xác hơn.
Cũng xin tổng hợp luôn nơi tìm ba con số cần cho phép tính. Người lao động nước ngoài thực tế hay bị tắc chính ở đây.
| Giá trị cần xác nhận | Nguồn tài liệu chính | Nếu không có tài liệu |
|---|---|---|
| ① Tổng tiền lương trước khi trừ | Phiếu lương (Điều 48 khoản 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động) | Cộng lại các khoản đã bị trừ vào số tiền đã vào tài khoản để tính ngược |
| ② Số giờ đã làm trong tháng đó | Số giờ làm việc theo quy định trong hợp đồng lao động, bảng ghi giờ vào/ra làm | Từ hôm nay hãy chụp ảnh hoặc ghi chú giờ vào/ra làm mỗi ngày |
| ③ Mức chuẩn để so sánh | Năm 2026: 10,320 KRW / Năm 2027: 10,700 KRW | Nếu thời gian làm việc trải qua hai năm thì tính tách theo từng năm |
Xin chỉ ra một ngộ nhận rất hay gặp. Đánh giá dựa trên số tiền hiện trên sổ tài khoản là sai. Vì tiền được chuyển vào sau khi đã trừ chi phí ăn ở hay tiền bảo hiểm, nên khi so sánh với lương tối thiểu phải dùng tổng tiền lương trước khi trừ. Bản thân chi phí ăn ở thì trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn có ô ở mục số 10 để ghi phần người lao động chịu và được thỏa thuận với nhau, nhưng số tiền thực tế bị trừ có ở mức hợp pháp hay không là chuyện xét theo từng trường hợp, hãy gọi ☎1350 xác nhận.

Khoản nào trong lương tháng được tính vào lương tối thiểu — Phạm vi tính gộp
Cùng một mức lương tháng, việc tính gộp khoản nào vào cũng quyết định bạn có bị thiếu hay không. Tiền lương được tính vào lương tối thiểu là tiền lương trả định kỳ ít nhất 1 lần mỗi tháng (Điều 6 khoản 4 Luật Lương tối thiểu).
| Khoản mục | Vào phép tính lương tối thiểu | Căn cứ |
|---|---|---|
| Lương cơ bản | Được tính | Trả định kỳ ít nhất 1 lần/tháng (Điều 6 khoản 4) |
| Tiền thưởng trả hằng tháng | Từ năm 2024 được tính toàn bộ | Điều 2 khoản 1 Phụ lục Luật số 15666 ngày 12/6/2018 |
| Phúc lợi như tiền ăn, tiền ở, tiền đi lại | Từ năm 2024 được tính toàn bộ | Điều 2 khoản 2 cùng Phụ lục |
| Phụ cấp cộng thêm cho làm thêm giờ, làm đêm, làm ngày lễ | Không được tính | Là khoản tiền nhận riêng, tách khỏi lương tối thiểu |
Tiền thưởng và tiền phúc lợi vốn theo quy định gốc phải trừ đi phần tương ứng 25%·7% mức quy đổi tháng rồi mới tính gộp. Nhưng Phụ lục sửa đổi năm 2018 đã giảm dần tỷ lệ đó theo từng năm và ấn định từ năm 2024 là 0/100. Vì vậy trong năm 2026·2027, tiền thưởng trả hằng tháng cùng tiền ăn, tiền đi lại được tính toàn bộ vào phép tính lương tối thiểu.
Hướng ngược lại cũng quan trọng. Phụ cấp cộng thêm cho làm thêm giờ, làm đêm, làm ngày lễ không được tính vào lương tối thiểu. Dù bạn tăng ca nhiều làm tổng lương tháng trông có vẻ lớn, phải trừ phụ cấp cộng thêm ra rồi lấy phần còn lại tính lại lương giờ mới ra kết luận đúng. Nếu tính mà vẫn giữ phần này trong đó thì rõ ràng đang bị thiếu mà lại trông như không.
Nếu bị cắt lương vì đang thử việc — Trường hợp được giảm và không được giảm
Nhận ít hơn lương tối thiểu trong thời gian thử việc không phải luôn luôn là vi phạm. Nhưng phải thỏa mãn cả ba điều kiện sau (Điều 5 khoản 2 Luật Lương tối thiểu, Điều 3 Nghị định thi hành cùng luật).
- ① Đã ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 năm trở lên. Nếu thời hạn hợp đồng dưới 1 năm thì bản thân việc giảm lương đã không được phép.
- ② Trong vòng 3 tháng kể từ ngày bắt đầu thử việc. Việc giảm lương sau khi qua 3 tháng là không có căn cứ.
- ③ Không thuộc nhóm nghề lao động phổ thông đơn giản. Người làm công việc thuộc nhóm nghề lao động đơn giản do Bộ trưởng Bộ Lao động và Việc làm công bố thì dù đang thử việc cũng không được giảm lương (đoạn ngoại trừ Điều 5 khoản 2).
Mức giảm cũng đã được ấn định: tối đa đến mức lương tối thiểu theo giờ trừ đi 10/100. Tính theo năm 2026 thì giới hạn dưới là 9,288 KRW, bằng 90% của 10,320 KRW. Thấp hơn con số này thì dù đang thử việc vẫn là bị thiếu.
Nhóm nghề lao động đơn giản ở mục ③ được Thông báo Bộ Lao động và Việc làm số 2018-23 (ban hành ngày 19/3/2018, đến năm 2026 vẫn còn hiệu lực) quy định là "người thuộc nhóm lớn số 9 (người làm lao động đơn giản) trong Phân loại nghề nghiệp tiêu chuẩn Hàn Quốc". Nhưng rất khó tự mình phán đoán nghề của mình có thuộc nhóm lớn 9 hay không. Vì dù làm trong ngành sản xuất hay xây dựng, cách phân loại vẫn khác nhau tùy công việc thực tế. Điều này nhất định phải hỏi ☎1350.
📌 Quan trọng: Trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn E-9 có ô riêng để ghi "tiền lương trong thời gian thử việc", nên rất nhiều trường hợp người lao động đã ký vào mức tiền thấp bất kể việc giảm lương đó có hợp pháp hay không. Dù đã ký, nếu việc giảm lương không đáp ứng ba điều kiện trên thì phần đó vô hiệu theo Điều 6 khoản 3 Luật Lương tối thiểu, và được xem như đã thỏa thuận trả mức lương bằng lương tối thiểu.
Nếu làm nông - lâm - chăn nuôi - thủy sản thì cấu trúc tính khác đi — Điều 63 Luật Tiêu chuẩn Lao động
Trước hết hãy xóa bỏ ngộ nhận. Ngoại lệ này chỉ liên quan đến các quy định về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ và ngày nghỉ. Không phải lương tối thiểu bị hạ xuống.
Điều 63 Luật Tiêu chuẩn Lao động quy định không áp dụng các quy định về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ và ngày nghỉ đối với người lao động làm trong ngành nông - lâm như canh tác, khai hoang đất, trồng, gieo, thu hái thực vật (mục 1) và ngành chăn nuôi, nuôi tằm, thủy sản như chăn nuôi động vật, thu hái, đánh bắt, nuôi trồng động thực vật thủy sinh (mục 2) (theo mốc 2026). Trang thông tin pháp luật đời sống của Bộ Pháp chế cũng hướng dẫn nội dung tương tự cho người lao động nước ngoài, và tinh thần này cũng được in trên mẫu số 6-2 kèm theo Quy tắc thi hành Luật Tuyển dụng người lao động nước ngoài (hợp đồng lao động tiêu chuẩn lĩnh vực nông nghiệp - chăn nuôi - ngư nghiệp).
| Khoản mục | Trong ngành nông - lâm - chăn nuôi - thủy sản | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bản thân mức lương tối thiểu | Vẫn được áp dụng nguyên vẹn | Điều 3 khoản 1 Luật Lương tối thiểu |
| Quy định giới hạn 40 giờ/tuần, thời gian nghỉ, ngày nghỉ | Không được áp dụng | Điều 63 mục 1·mục 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động |
| Cộng thêm 50% cho làm thêm giờ | Không được áp dụng | Điều 63 Luật Tiêu chuẩn Lao động |
| Cộng thêm cho làm ngày nghỉ | Không được áp dụng | Điều 63 Luật Tiêu chuẩn Lao động |
| Cộng thêm 50% cho làm đêm (22:00~06:00) | Vẫn được áp dụng nguyên vẹn | Điều 56 khoản 3 Luật Tiêu chuẩn Lao động |
Dòng cuối cùng mới là trọng tâm. Điều 63 chỉ loại trừ thời giờ làm việc, thời gian nghỉ và ngày nghỉ, nên phần cộng thêm 50% cho làm đêm vẫn còn hiệu lực. Phần tiền lương trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn (lĩnh vực nông nghiệp - chăn nuôi - ngư nghiệp) của Bộ Lao động và Việc làm cũng ghi rõ "đối với làm việc ban đêm phải trả thêm 50% lương theo giờ". Tuy nhiên trong cùng ô đó còn có phần trong ngoặc ghi "không áp dụng với nơi làm việc có 4 người lao động thường xuyên trở xuống", nên phải xem cả quy mô nơi làm việc.
Chú ý: Điều 63 còn có mục 3 (người lao động làm công việc giám sát·gián đoạn và đã được Bộ trưởng Bộ Lao động và Việc làm phê duyệt) và mục 4 (công việc do Nghị định của Tổng thống quy định). Mục 3 phải có phê duyệt riêng, mục 4 được quy định riêng trong nghị định thi hành, nên không được chỉ xem danh sách rồi tự phán đoán "chỗ mình chắc cũng thuộc diện này". Việc có thuộc diện đó hay không do Sở Lao động và Việc làm phụ trách xác định.
Cũng nên biết trước rằng chỉ dựa vào hợp đồng thì rất khó chứng minh số giờ. Ô thời giờ làm việc trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn ngành nông - chăn nuôi - ngư nghiệp chỉ ghi "( ) giờ/tháng", còn số giờ làm việc trong ngày và ngày nghỉ là nội dung để thỏa thuận, nên người lao động không giữ được bằng chứng nào chứng minh mình đã làm bao nhiêu giờ. Nếu từ hôm nay bạn chụp ảnh hay ghi chú giờ vào làm - tan làm mỗi ngày, sau này chúng sẽ thành căn cứ cho phép tính. Nếu điều kiện làm việc khác hợp đồng quá nhiều, hãy xem thêm lý do và thủ tục chuyển nơi làm việc.
Nếu là nơi làm việc dưới 5 người — Lương tối thiểu vẫn áp dụng, phụ cấp cộng thêm thì không
Ở đây phạm vi áp dụng của hai luật cũng khác nhau. Luật Lương tối thiểu vẫn được áp dụng nguyên vẹn với nơi làm việc dưới 5 người (Điều 3 khoản 1 Luật Lương tối thiểu). Ngược lại, Luật Tiêu chuẩn Lao động chỉ áp dụng một phần điều khoản với nơi làm việc có 4 người thường xuyên trở xuống (Điều 11 khoản 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động, Điều 7 Nghị định thi hành cùng luật và Bảng 1).
- Được áp dụng: lương tối thiểu, trả đủ và trả định kỳ tiền lương (Điều 43 Luật Tiêu chuẩn Lao động), thời gian nghỉ (Điều 54), ngày nghỉ có lương hằng tuần (Điều 55 khoản 1).
- Không được áp dụng: giới hạn 40 giờ/tuần (Điều 50) và phụ cấp cộng thêm cho làm thêm giờ, làm đêm, làm ngày nghỉ (Điều 56).
Chú ý: Hai dòng trên không phải toàn bộ, mà chỉ là những khoản hay gặp vấn đề. Việc điều khoản nào của Luật Tiêu chuẩn Lao động được áp dụng cho nơi làm việc có 4 người thường xuyên trở xuống do Bảng 1 Nghị định thi hành Luật Tiêu chuẩn Lao động quy định, nên không có trong danh sách này cũng không tự động được áp dụng hết. Nơi làm việc của bạn có bao nhiêu người và thuộc diện nào do Sở Lao động và Việc làm phụ trách xác định, hãy gọi ☎1350 để xác nhận.
Vì vậy, ở nơi làm việc có 4 người thường xuyên trở xuống, việc tăng ca mà không được cộng thêm phụ cấp không phải là vi phạm. Nhưng nếu lương giờ thấp hơn lương tối thiểu thì bản thân điều đó đã là vi phạm, và việc không trả đủ tiền lương cũng là vi phạm, nên dù dưới 5 người bạn vẫn có thể gửi đơn khiếu nại.
Ở điểm này, phán đoán sai xảy ra theo cả hai chiều. Có người trong tình huống không có phụ cấp cộng thêm là hợp pháp lại nghĩ rằng "mình bị nợ lương"; ngược lại có người đáng được nhận cộng thêm 50% làm đêm nhưng lại bỏ qua với suy nghĩ "nông trại thì vốn dĩ chẳng ai trả". Cả hai trường hợp chỉ có đáp án khi xác định được số người lao động thường xuyên và loại hình doanh nghiệp của nơi làm việc, mà bản thân cách đếm số người lao động thường xuyên cũng do quy định ấn định nên rất khó tự phán đoán. Hãy trình bày đúng tình hình nơi làm việc với ☎1350 và nhờ xác nhận.
Sau khi tính xong thì cần chuẩn bị gì — Bằng chứng và thời hiệu 3 năm
Khi đã ra được số tiền, đến lượt thu thập tài liệu chứng minh cho số tiền đó. Năm thứ là đủ.
- Hợp đồng lao động: Với E-9 là hợp đồng lao động tiêu chuẩn theo mẫu kèm theo Quy tắc thi hành Luật Tuyển dụng người lao động nước ngoài. Nếu có hợp đồng ký riêng sau khi chuyển nơi làm việc thì mang cả cái đó.
- Phiếu lương: Có ghi các thành phần tiền lương, cách tính và các khoản bị trừ, là tài liệu gốc cho phép tính.
- Lịch sử chuyển tiền vào tài khoản: Là số tiền và ngày thực tế đã vào. Nếu nhận bằng tiền mặt, hãy ghi chú lại ngày và số tiền đã nhận.
- Bảng ghi giờ vào/ra làm: Bảng phân công, dữ liệu ra vào cửa, ảnh hay ghi chú chụp mỗi ngày — bất cứ thứ gì thể hiện được số giờ đều được.
- Tin nhắn đã trao đổi với chủ sử dụng: Hãy chụp lại các đoạn nói chuyện về tiền lương, thời giờ làm việc.
Nếu bạn chưa từng nhận được phiếu lương thì bản thân điều đó là vi phạm. Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải cấp phiếu lương bằng văn bản (bao gồm văn bản điện tử) (Điều 48 khoản 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động), vi phạm sẽ bị áp tiền phạt hành chính đến 5 triệu KRW (Điều 116 khoản 2 mục 2 cùng luật, theo mốc 2026). Không có phiếu lương thì chỉ còn cách tính ngược từ lịch sử chuyển tiền và bảng ghi giờ làm, nên khi tư vấn hãy nói luôn cả việc "tôi không được nhận phiếu lương".
Việc không thông báo về lương tối thiểu cũng là một vi phạm riêng. Bốn nội dung người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động là ① mức lương tối thiểu áp dụng cho người lao động ② tiền lương không được tính gộp vào lương tối thiểu ③ phạm vi người lao động được loại trừ khỏi việc áp dụng lương tối thiểu ④ ngày tháng năm lương tối thiểu có hiệu lực, và phải thông báo trước ngày có hiệu lực (Điều 11 khoản 1·khoản 2 Nghị định thi hành Luật Lương tối thiểu). Vi phạm sẽ bị tiền phạt hành chính đến 1 triệu KRW (Điều 31 khoản 1 mục 1 Luật Lương tối thiểu).
Cũng có giới hạn về thời gian. Quyền yêu cầu tiền lương theo Luật Tiêu chuẩn Lao động sẽ hết hiệu lực theo thời hiệu nếu không thực hiện trong 3 năm (Điều 49 Luật Tiêu chuẩn Lao động). Nghĩa là phần thiếu của những tháng xa nhất sẽ mất đi trước theo thứ tự, nên tính xong rồi thì đừng trì hoãn. Nếu bạn đã nghỉ việc, người sử dụng lao động phải chi trả toàn bộ tiền lương và các khoản tiền khác trong vòng 14 ngày kể từ ngày phát sinh lý do chi trả (Điều 36 cùng luật).
Mẹo: Số tiền tính ra ở đây là bản nháp để trình khi tư vấn hoặc khiếu nại. Số tiền cuối cùng có thể thay đổi tùy vào việc có thỏa thuận lương gộp (bao trọn) hay không, số giờ làm việc theo quy định được ấn định thế nào, có đang thử việc hay không và quy mô nơi làm việc là bao nhiêu. Nếu bạn ghi quá trình tính toán lên một tờ giấy mang đi thì buổi tư vấn sẽ nhanh hơn nhiều.
Những điều không nên tự quyết bằng bài viết này — Hỏi ở đâu
Chủ đề này có ít nhất năm điểm mà kết luận khác nhau theo từng người. Không điểm nào người đọc có thể tự xác định một mình.
- Nghề của tôi có thuộc nhóm lớn 9 trong Phân loại nghề nghiệp tiêu chuẩn Hàn Quốc hay không — quyết định việc có được giảm lương thử việc hay không.
- Nơi làm việc có từ 5 người lao động thường xuyên trở lên hay không — quyết định việc có được nhận phụ cấp cộng thêm hay không.
- Doanh nghiệp của chúng tôi có thuộc Điều 63 mục 1·mục 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động hay không — quyết định có được cộng thêm cho làm thêm giờ, ngày nghỉ hay không.
- Có được Bộ trưởng Bộ Lao động và Việc làm phê duyệt là lao động giám sát·gián đoạn hay không — thuộc vấn đề Điều 63 mục 3 Luật Tiêu chuẩn Lao động.
- Có giấy cho phép loại trừ áp dụng theo Điều 7 Luật Lương tối thiểu hay không — việc có được cho phép hay không được xác nhận qua giấy tờ, không phải qua nơi làm việc.
Cả năm điều hãy xác nhận tại ☎1350 (Trung tâm tư vấn khách hàng Bộ Lao động và Việc làm). Nếu cần phiên dịch mà khó kết nối, bạn có thể hỏi trước để được hướng dẫn tại ☎1345 (Trung tâm tư vấn tổng hợp cho người nước ngoài) hỗ trợ 20 ngôn ngữ, hoặc ☎1577-0071 (Trung tâm tư vấn nhân lực nước ngoài). Những vấn đề liên quan đến tư cách lưu trú hay visa không được đề cập trong bài này, hãy gọi ☎1345 để xác nhận.
Đơn khiếu nại cũng có thể gửi trực tuyến qua Cổng Lao động của Bộ Lao động và Việc làm (labor.moel.go.kr). Vì có thể bắt đầu mà không phải đối mặt trực tiếp với chủ sử dụng, rào cản tâm lý khá thấp. Thủ tục tiếp nhận và vai trò của từng cơ quan được tổng hợp chi tiết tại tổng hợp các cơ quan tư vấn chính thức về lao động và lưu trú. Nếu bạn mới lần đầu tiếp xúc với chế độ E-9 thì nên xem cấu trúc cơ bản của Chế độ cấp phép tuyển dụng (EPS) trước sẽ dễ hiểu hơn.
Lưu ý: Từ ngày 8/12/2026, cách gọi "근로감독관" (thanh tra lao động) trong Luật Lương tối thiểu sẽ đổi thành "노동감독관" (Luật số 21534, sửa đổi theo luật khác ngày 7/4/2026). Dù bạn nghe tên gọi khác ở quầy tiếp nhận thì vẫn là cùng cơ quan, cùng người phụ trách.
Trong lúc đi lại giữa Sở Lao động và Trung tâm việc làm — Di chuyển và thanh toán
Tư vấn tiền lương và khiếu nại là việc phải đi lại vào ban ngày các ngày trong tuần. Nếu Sở Lao động và Việc làm phụ trách ở xa nơi bạn sống thì mất cả ngày, mà nếu còn vướng cả vấn đề tư cách lưu trú thì phải đến Cục Xuất nhập cảnh và Người nước ngoài một lần nữa. Người làm việc ở địa phương cũng thường phải đi lại bằng KTX hoặc xe khách cao tốc.
Để không bị tắc ở khâu di chuyển và thanh toán, sẽ tiện hơn nếu bạn chuẩn bị sẵn những dịch vụ được thiết kế sao cho không cần xác minh danh tính riêng theo quy trình chính thức. LACHA là siêu ứng dụng di chuyển và thanh toán dành cho người nước ngoài, dùng ngay mà không cần xác thực danh tính. Bạn có thể bắt đầu chỉ với hộ chiếu, không cần tài khoản ngân hàng hay số điện thoại Hàn Quốc, và xử lý gọi taxi, KTX, xe khách cao tốc, tàu điện sân bay, thẻ giao thông ở cùng một nơi. Nó không giải quyết được vấn đề tiền lương, nhưng ít nhất việc đi lại giữa các cơ quan sẽ bớt rắc rối.
Cần đi lại và thanh toán trong thời gian chờ thẻ cư trú? Hãy xem LACHA.
Được thiết kế để dùng không cần số điện thoại hay tài khoản ngân hàng Hàn Quốc, hỗ trợ ZaloPay, Alipay, Apple Pay và nhiều phương thức thanh toán nước ngoài. Gọi taxi, đặt vé KTX, xe buýt tốc hành và tàu sân bay AREX — tất cả trong một ứng dụng.
Nhập mã GUIDE3 khi đăng ký để nhận ngay 3.000P
Tải ngay
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Q1. Người nước ngoài cũng nhận lương tối thiểu giống người Hàn Quốc chứ? Vâng, giống nhau. Điều 3 khoản 1 Luật Lương tối thiểu chỉ quy định đối tượng áp dụng là "mọi doanh nghiệp hoặc nơi làm việc có sử dụng người lao động", không đặt điều kiện về quốc tịch hay tư cách lưu trú. Điều 6 Luật Tiêu chuẩn Lao động cấm phân biệt điều kiện lao động vì lý do quốc tịch, và Điều 22 Luật Tuyển dụng người lao động nước ngoài cũng cấm phân biệt đối xử bất công chỉ vì là người lao động nước ngoài. Mức 10,320 KRW/giờ năm 2026 và 10,700 KRW/giờ năm 2027 là cùng một mức chuẩn, không liên quan đến quốc tịch.
Q2. Tôi nghe nói làm ở nông trại (chăn nuôi) thì lương tối thiểu thấp hơn, có đúng không? Không đúng. Cả hai thông báo năm 2026·2027 đều ghi rõ "áp dụng như nhau cho toàn bộ nơi làm việc, không phân biệt theo loại hình doanh nghiệp", nên không có lương tối thiểu phân biệt theo ngành nghề. Điều khác đi trong ngành nông - lâm - chăn nuôi - thủy sản là các quy định về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ và ngày nghỉ (Điều 63 mục 1·mục 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động). Cộng thêm cho làm thêm giờ và ngày nghỉ không được áp dụng, nhưng bản thân mức lương tối thiểu vẫn được áp dụng nguyên vẹn. Cộng thêm 50% cho làm đêm (Điều 56 khoản 3) cũng còn hiệu lực, nhưng nếu nơi làm việc có 4 người lao động thường xuyên trở xuống thì ngay cả điều này cũng không áp dụng, nên phải xác nhận cả quy mô nơi làm việc (☎1350).
Q3. Tôi có thể tính dựa trên số tiền vào tài khoản sau khi đã trừ chi phí ăn ở không? Không được. Khi so sánh với lương tối thiểu phải dùng tổng tiền lương trước khi trừ. Nếu tính bằng số tiền đã trừ chi phí ăn ở hay tiền bảo hiểm thì kết quả sẽ thấp hơn thực tế và dẫn đến kết luận sai. Chi phí ăn ở thì trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn có ô ở mục số 10 để ghi phần người lao động chịu và được thỏa thuận với nhau, nhưng số tiền thực tế bị trừ có ở mức hợp pháp hay không là chuyện xét theo từng trường hợp, hãy gọi ☎1350 xác nhận.
Q4. Tôi đang thử việc nên chỉ nhận 90% và trong hợp đồng cũng đã ký như vậy. Có phải là không thể làm gì không? Dù đã ký, nếu không đáp ứng điều kiện thì phần đó vô hiệu. Việc giảm lương chỉ được phép khi thỏa mãn cả ba điều kiện: ① hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên ② trong vòng 3 tháng kể từ ngày bắt đầu thử việc ③ không thuộc nhóm nghề lao động phổ thông đơn giản (Điều 5 khoản 2 Luật Lương tối thiểu, Điều 3 Nghị định thi hành). Chỉ cần lệch một điều kiện thì phần hợp đồng đó vô hiệu theo Điều 6 khoản 3 Luật Lương tối thiểu và được xem như đã thỏa thuận trả mức lương bằng lương tối thiểu. Nghề của bạn có thuộc nhóm lao động đơn giản hay không thì hãy hỏi ☎1350.
Q5. Tôi chưa từng nhận được phiếu lương, vậy có tính được không? Vẫn tính được. Cộng các khoản bị trừ vào lịch sử chuyển tiền vào tài khoản để xác định tổng tiền lương, rồi đếm số giờ đã làm bằng bảng ghi giờ vào/ra làm là ra bản nháp. Tuy nhiên bản thân việc không cấp phiếu lương đã là vi phạm Điều 48 khoản 2 Luật Tiêu chuẩn Lao động và thuộc diện tiền phạt hành chính đến 5 triệu KRW (Điều 116 khoản 2 mục 2 cùng luật), nên khi tư vấn hãy nói luôn cả việc này. Nếu từ hôm nay bạn chụp ảnh hoặc ghi chú giờ vào/ra làm mỗi ngày thì bằng chứng sẽ dần tích lũy.
Tham khảo: Bài viết này là thông tin hướng dẫn chung, không phải tư vấn pháp lý. Số tiền, điều luật và mức tiền phạt hành chính trong bài theo mốc 2026-08, được xác nhận từ thông báo của Bộ Lao động và Việc làm (số 2025-47 · số 2026-60), nguyên văn Luật Lương tối thiểu, Luật Tiêu chuẩn Lao động, Luật Tuyển dụng người lao động nước ngoài trên Trung tâm thông tin pháp luật quốc gia và trang thông tin pháp luật đời sống của Bộ Pháp chế. Lương tối thiểu của năm sau được công bố mới vào đầu tháng 8 mỗi năm và các quy định cũng được sửa đổi (như việc đổi cách gọi "근로감독관" → "노동감독관" từ ngày 8/12/2026), nên hãy kiểm tra lại trước khi tính toán và làm thủ tục. Những nội dung như giới hạn khoản trừ chi phí ăn ở, việc xác định phần thiếu khi có thỏa thuận lương gộp, hay phân loại nghề nghiệp tiêu chuẩn của nghề bạn đang làm là chuyện của từng trường hợp cụ thể nên bài viết không kết luận. Về tiền lương và điều kiện lao động hãy gọi ☎1350, về lưu trú và visa hãy gọi ☎1345, Trung tâm tư vấn nhân lực nước ngoài là ☎1577-0071, khiếu nại trực tuyến tại Cổng Lao động (labor.moel.go.kr) và hãy xác nhận theo tình huống của chính bạn. LACHA không liên quan đến các cơ quan công nêu trên, mà là dịch vụ tư nhân cung cấp tiện ích di chuyển và thanh toán.




